
Tôi gắng sức đứng vững, thân trước hơi dựa vào bồn rửa mặt trong lúc cố nặn kem đánh răng từ cái tuýp mini ra bàn chải. Phòng tắm bệnh viện An Sinh sạch sẽ và thoải mái hơn trong trí nhớ dù vẫn ám mùi bệnh tật, và tôi thì vừa kéo lê thân thể lẫn tâm hồn mình qua khỏi cái đêm hậu phẫu dài như một đời người. Dư âm thuốc tê khiến thắt lưng đau nhói, không cách nào tôi nhớ được 4 năm trước lúc cũng làm tiểu phẫu ở vị trí tương tự và gây tê tương tự thì tôi cũng đau lâu thế này. Tôi mơ hồ không hiểu vì sao mình lại ở trong tình cảnh như vậy, cái mùa hè gì đâu mà lại khởi động bởi một ca phẫu thuật cơ chứ? Chẳng biết được riêng việc đi mổ về căn bản là đau đớn, hay vì nỗi ám ảnh về kết quả sinh thiết cứ lởn vởn như một đám mây mù đặc quánh và nặng trĩu hết cả tâm trí.
Đó là câu chuyện mới được cỡ 1 tuần trước. Thời gian thì chóng vánh mà cơn đau thì lê thê. Nhưng mùi bệnh viện không phải là thứ gây thương nhớ. Đúng vào khoảnh khắc đứng trong phòng tắm và bóp face cream từ tuýp Diptyque ra mu bàn tay, thứ hương thơm thoảng như cây cỏ lẫn mùi ngai ngái rất đặc trưng của nó đã làm sống dậy một đoạn đời yêu dấu đến vô cùng vào mùa Xuân New York đúng vào 3 năm trước. Chỉ mới 3 năm trước thôi, tôi đã có một cuộc đời mình không muốn quên – còn hiện tại, tức là 3 năm sau của cuộc đời đó, tôi có hẳn một đoạn đời thật lòng cần xoá gấp khỏi kí ức.
Nhưng đây vốn không phải là thứ tôi muốn viết xuống – về một cuộc đời đã cách xa nước Mỹ vạn cây số. Tôi muốn viết về cái tuần cuối tháng Năm năm xưa, khi tôi có 7 ngày ngắn ngủi với thành phố mình thương, khi sự hồi sinh của đất trời đã nán lại đủ lâu để kịp nói cùng tôi một lời tạm biệt. Tôi hẹn hò New York như thể trong vũ trụ bao la này chỉ còn 2 chúng tôi tồn tại, và tôi khiến buổi hẹn trọn vẹn như thể đó chính xác là lần cuối cùng chúng tôi còn nhìn thấy nhau trong đời. Tôi biết mình cần tập thôi nói những lời bi quan, nhưng có những chuyện vốn không phải cứ muốn là được, càng không nên tự gieo vào lòng một nguồn cơn hy vọng nhỏ nhoi nào cả, mặc dù đâu đó tôi vẫn tin đây chưa phải là kết thúc tuyệt đối.
Nước Mỹ một đêm Đông trắng xoá lần đầu đặt chân đến Niagara Falls không giống nước Mỹ chiều Xuân nắng vàng ngày cuối cùng nói lời tạm biệt New York. Tôi thấy mình cần lắm được để lại ở đây mấy dòng tự sự này đã từ 3 năm trước rồi, từ giây phút tôi đặt lòng mình xuống để nỗi buồn mênh mang trong sâu thẳm được dâng lên thật đầy, từ buổi chiều hoàng hôn chảy tràn Times Square một mình tôi ngồi bâng khuâng ở lối thang metro bẩn thỉu và mắt bắt đầu ngấn lệ, từ chuyến bay trước lúc Mặt Trời lặn đưa tôi đi khỏi một hành trình mình chưa bao giờ muốn dừng lại, từ giây phút tôi gửi lại một lời thì thầm giữa lòng phố Mã Nhật Tân. Không một lời chia tay nào được thốt ra dễ dàng.
Mùi hương vương trên kí ức
Hương thơm của lọ kem dưỡng Diptyque không nhất thiết là kiểu mùi duy nhất thuộc về khoảng thời gian đó. Tuy vậy, nó đủ đặc biệt để đánh dấu một cột mốc khó quên. Đó là tuýp kem trong bộ amenity kit trên khoang Thương Gia của Qatar Airways mà tôi còn giữ đến hôm nay. Từ 10 năm trước lúc phải thường xuyên bay tới lui giữa 2 bờ Thái Bình Dương, tôi bắt đầu có thói quen giữ bất cứ sản phẩm travel size nào mà mình lượm lặt được trên các chuyến bay. Không phải đam mê gì, nhưng gom gom lại được vài món cũng đỡ lắm, tại vì hồi đó không dễ gì tìm được mấy mẫu dùng nhỏ cỡ vậy ở siêu thị hay cửa hàng mỹ phẩm và cửa hàng tiện lợi ở Sài Gòn. Mà tôi thì không mấy thích thú với việc cứ phải chiết sản phẩm ra lọ nhỏ, phiền và cũng dễ thất lạc. Việc giữ lại amenity kit trên máy bay bỗng dưng biến thành tật cũ khó bỏ, vậy nên kể cả khi bay chuyến cuối cùng từ Mỹ về Sài Gòn – vốn chưa biết ngày quay lại ấy, tôi cũng cất vô balo bộ kit được cấp trên Business Class lúc đó.
Bộ kit cho người có tiền quả là một đẳng cấp rất khác. Nó gồm một túi đựng bằng da hẳn hoi, màu đen trắng đặc trưng của Diptyque và thiết kế giản dị nhã nhặn theo kiểu nhà giàu kín tiếng. Bên trong chứa một tuýp face cream, một tuýp hand cream, một tuýp lip balm mini, bàn chải – kem đánh răng và một cặp tất dày dặn. Năm đó, tôi đích thị là con nhỏ quê mùa người khảm đầy phèn, lần đầu trải nghiệm bay hạng Thương Gia, trong mắt lấp đầy những xa hoa, lấp lánh, nhìn đâu cũng thấy thứ mình muốn nhét vào vali làm của riêng.
Mặc dù amenity kit của Diptyque được cấp trên khoang chắc chắn vẫn là bộ kit sang xịn mịn nhất mà tới giờ tôi từng gom được, thì 8 tiếng bay vương giả kia mới chính là thứ tôi muốn cất giấu hơn cả – được ăn một bữa 3-course meal như nhà hàng, tráng miệng kem gelato ngon đến tan chảy vị giác, được ngủ duỗi thẳng chân ngon lành, gối thì êm, chăn thì ấm, màn hình đã to lại nét căng, chưa kể cái người make the bed cho mình không những đẹp trai quá sức chịu đựng, mà lại còn lân la xin mình contact info – dù tôi cho ảnh Instagram một cách không nghiêm túc và máy bay đã đáp xuống Sài Gòn nhiều năm rồi cũng chưa bao giờ thấy ảnh gửi lời mời kết nối. Một tuổi trẻ bay miệt mài cùng tấm thân rệu rã đầy bệnh vặt này khiến tấm vé Thương Gia trở thành điều thật sự đáng để khao khát. Ước gì tôi có thể ém nhỏ hành trình 8 tiếng ấy vào lòng bàn tay, quắp chặt các ngón tay lại, rồi đút thẳng vào một cái hộp có khoá, để nó luôn luôn ở đó, bao giờ cần lại lôi ra xài, và hạn sử dụng là vĩnh viễn.
Đợt đó, bố tài trợ vé Economy, tôi dùng tiền tiết kiệm upgrade lên Business theo một pha mời mọc lắm dễ dãi đến từ hãng, dù khi ấy chỉ đủ khả năng để nâng hạng ở chặng short haul. Nếu buộc phải khoe về một thành tựu trước tuổi 30, như kiểu Under-30 Forbes, hoặc như các bạn mua được nhà, được xe, dựng vợ gả chồng sinh con các kiểu, thì tôi không cảm thấy muốn nói về thời gian 7 năm bôn ba mà khôn lớn, tôi sẽ muốn khoe rằng cuối cùng tôi đã ngồi được ở khoang Thương Gia trong suốt 8 tiếng, bằng chính tiền mình tự kiếm. Đừng hiểu lầm, không phải 7 năm nước Mỹ là điều dễ dàng – ngược lại, đó chính xác là một quá trình lột xác rất đau đớn, chỉ là sau rất nhiều ngày tháng miệt mài lao động, sau tất cả gian nan đã nằm lại phía sau, thì việc tự chi cho bản thân một trải nghiệm 5 sao giống như một lời khen thưởng vì mình xứng đáng vậy. Nỗ lực đến thế kia cơ mà. Nó dễ hình dung và cũng đầy tự hào như các bạn lên chức Manager trước khi chạm đầu 3 ở các tập đoàn đa quốc gia đó thôi!
Tôi nhớ mình ngồi trên máy bay, bắt đầu lục lọi chơi bời với từng thứ một trong túi kit. Lúc mở tuýp face cream, ngửi thấy mùi kém quyến rũ, tôi đóng nắp lại luôn – tôi để đó, biết hẳn sẽ có dịp dùng. Tuần trước, vào đêm trước khi nhập viện, tôi bắt đầu sắp xếp những thứ cần mang vào giỏ. Tôi biết mình có quyền trông tàn tạ và thảm hại, vì phẫu thuật xong mệt quá hơi đâu mà làm đẹp. Nhưng bằng cách khó hiểu nào đó, tôi không cho phép mình ở bẩn và thiếu sáng sủa, đó không phải là cách tôi tôn trọng bản thân. Thế nên trong lúc soạn đồ skincare, bất giác ngó thấy lọ face cream của Diptyque trên kệ, tôi vơ luôn vào túi. Tới chừng đứng trong phòng tắm và thoa kem lên mặt, kí ức New York xa xăm ùa về đột ngột và lưu luyến.
Một cuộc đời Nữu Ước
Rạng sáng 24/05 năm đó, tôi và Tiến chính thức giã từ ngôi nhà 4898 đã cùng 2 đứa đi qua rất nhiều gập ghềnh thác đổ. Một đêm thức trắng và tâm trạng bần thần lẫn hỗn loạn bởi thật khó để định nghĩa cảm xúc lúc mình thẳng tay vứt nốt vài món đồ giá trị cuối cùng vào sọt rác, lực bất tòng tâm làm sao mang cho bằng hết về Sài Gòn. Tôi vứt chúng, vứt luôn một vài tình bạn ít ỏi mình có được, lạnh lùng và tàn nhẫn đến độ mãi về sau mỗi lúc nhớ quá tôi cũng chẳng dám khóc. Chúng tôi bắt chuyến bay sớm đến JFK. Rồi Tiến đi cùng tôi một quãng dài đến chiếc thang cuốn dẫn xuống baggage claim. Chúng tôi ôm nhau tạm biệt và tôi đưa bạn ống dramamine, rồi Tiến quay lại cửa để bay chuyến tiếp tới San Francisco, còn tôi lấy hành lý, bắt Uber về nhà Palak.
Tôi sắp sửa quay lại ngôi nhà đã cưu mang mình với đầy ắp những chân tình dạt dào vào lần đầu tôi gặp gỡ New York. Hành trình Nữu Ước sắp khép thành một vòng tròn hoàn hảo. Có vô vàn cuộc đời đã lướt qua nơi này giữa 2 lần đầu – cuối ấy. Một cuộc đời nào đó Sam đã xuất hiện. Một cuộc đời khác tôi và Savage Team đã bên nhau. Một cuộc đời sau đó tôi và người cũ tay trong tay dưới màn balldrop giao thừa trong huyền thoại. Mỗi một cuộc đời trôi đi như thế là một minh chứng vĩnh hằng cho một lần tôi sống trong tình yêu. Năm tháng lặng lẽ trôi và lấy đi những thứ mà cuộc đời không cách gì trả lại cho mình được nữa. Nhưng tình yêu tôi dành cho New York vẫn luôn bền bỉ tới tận cùng – bất chấp tất cả đã rời đi, để lại một mình tôi trơ trọi bên đống kí ức hoang tàn sẽ mang theo hết vào tương lai.
Mùa Thu 2017, tôi đến nhà Palak và ngại ngùng trở thành đứa con gái nhỏ nhất của gia đình. Tôi gọi ba mẹ của Palak là Ba và Mẹ vì Ba Mẹ tuyên bố là nhận nuôi đứa con gái Việt Nam này vô thời hạn. Mẹ suốt ngày kêu tôi là “My Baby”. Mẹ lúc nào cũng nấu rất nhiều món, đương nhiên vì đó là truyền thống gia đình và vì Ba cần ăn nhiều, nhưng mẹ sẽ luôn hớn hở những khi tôi ăn được hơn mức bình thường mà tôi có thể, vì trong mắt cả nhà tôi là đứa nhỏ ốm o gầy gò (which was not true!). Mẹ không muốn tôi chạm tay vào bếp núc và sẵn sàng càm ràm mỗi khi tôi tiêu tiền để mua mấy loại bánh ngon về đãi mọi người.
Mùa Xuân 2023, tôi hỏi Palak liệu đợt này đến New York 1 tuần, tôi có được ở với gia đình không – không phải vì tôi không thuê nổi 1 căn airbnb, nhưng những ngày cuối cùng của tôi với nước Mỹ, tôi muốn sống ở thành phố mình thương và bên cạnh những người mình thương. Mẹ mừng lắm vì con gái út của bà tới ở với bà. Tối nào ăn cơm xong, 3 chị em cũng chui vô phòng Mẹ, Mẹ nằm dài, ôm xoa đầu từng đứa. Diễm phúc nào đã cho tôi một gia đình như vậy ở xứ người cơ chứ? Có mấy tối Mẹ kể ở chỗ làm bị bắt nạt, Mẹ buồn quá chẳng biết làm sao, bây giờ bỏ làm thì tiền đâu mà phụ Ba chống đỡ gia đình.
Tôi thấy New York không chút dịu dàng với cả nhà Palak. Nỗi khốn khó bủa vây lấy họ suốt cả cuộc đời – một gia đình Ấn Độ rời quê hương, đến cái nơi mà truyền thuyết kể lại rằng ở đó tương lai rất xán lạn, chưa một giây phút nào là dễ thở, nhưng con cháu họ đã lớn lên, ăn học tử tế và trở thành những người có ích. Tôi không dám tưởng tượng một ngày nào đó tôi trở thành một trong số họ, và thành phố tôi sẽ yêu trọn kiếp này bắt đầu vùi dập mình tả tơi. Nhưng dù sao đi nữa, New York đã yêu thương tôi bằng tất thảy những gì mà cậu ấy có thể cho đi – một làn gió Xuân mơn man trên da thịt để tôi cảm nhận thế nào là tái sinh, một 5th Avenue đi đến đâu là nghe “In New York, concrete jungles where dreams are made of. There’s nothing you can’t do” đến đó khiến lòng mình dấy lên rất nhiều mơ ước, một chuyện tình long lanh và dễ vỡ như pha lê, một ai đó vẫn hoài ngóng trông mình quay lại, một giấc mộng chưa thành, một niềm hy vọng không hề mong manh. Một thứ yêu thương đặc biệt, mãnh liệt và quá đỗi ồn ào.
“… Chẳng biết liệu ta kết thúc thật chưa?…”
Tôi hay bắt F train vào phố, đi lang thang vô định khắp ngõ ngách mà tôi đã đi mãi thành quen ở Manhattan – đây gần như là routine đều đặn mỗi ngày của tôi trước lúc bay – ngủ dậy, ăn cơm, đi tắm, thay đồ đẹp ra phố, loanh quanh, ăn bánh, ăn mì ramen, về nhà trước 7 rưỡi tối, lại ăn cơm quây quần với cả nhà, đôi lúc xem phim khuya với anh Hoàng Tử từ xa, rồi đi ngủ. Cuộc sống bỗng chốc dễ thở như 2 lá phổi nhẹ tênh hít hà không khí của biển cả núi non. Đâu ai biết được nỗi hạnh phúc trông chẳng tày gang kia đã cứu rỗi linh hồn tôi ra sao. Vậy nên tôi để mọi thứ xuôi dòng chậm rãi, không cố tỏ ra mình cần phải đặt chân cho bằng hết đến những nơi chưa từng hay ăn mọi món chưa thử. Trải nghiệm mới mẻ nhưng chóng vánh vốn khó đọng lại một cách sâu sắc, trong khi những gì xảy đến không hữu ý đôi khi trường tồn với thời gian. Tôi cho phép bản thân được từ tốn ôm lấy thành phố này trong tất cả những giây phút ít ỏi còn sót lại, như thể để về sau khi già nua lãng trí và quên hết nửa cuộc đời, thì cũng không quên một chuyện tình trọn vẹn đã có hôm nay với New York. Biết đâu mai này chẳng còn gặp lại.
Một ngày trong veo tựa cái nhìn vô tư của một người chưa hiểu cơn sầu muộn, tôi cố ý diện một chiếc váy hoa ra đường. Trong suốt 20 phút cuốc bộ ra trạm tàu, tôi loop trong tai non-stop Mưa Tháng Sáu lúc đó vừa ra mắt độ 1-2 tuần của Văn Mai Hương. Ca từ không hợp hoàn cảnh nhưng giai điệu thì tình và gây nghiện như sự vụ yêu đương của tôi vậy. Tôi tấp đại vào một hàng mì ramen đến giờ vẫn không cách nào nhớ nổi tên, ăn một bát nóng hổi đầy ụ và miên man nhớ bát mì ramen đã xếp hàng chờ ăn gần 1 giờ đồng hồ với Tiến ở Boston, lúc đó bão tuyết sắp sửa càn quét và đó là câu chuyện trước Mã Nhật Tân chỉ vỏn vẹn 2 tháng. Tôi thích sống bằng kí ức vì đó gần như là một cách thiết yếu để nhận ra mình đã sống rất trọn. Ăn xong, tôi quẹo ngẫu nhiên vào một tiệm bánh Ý mà cũng chẳng nhớ tên, gọi một chiếc croissant, dư vị không mấy ấn tượng nhưng nó khiến tôi nhớ Hòn và một ngày nắng New York trong tích tắc đã ước có Hòn ở đó để chia sẻ chiếc bánh.
Tôi lang thang dọc đại lộ số 5 chỉ vì đó là con đường quen thuộc để ôn lại những điều đẹp đẽ đã trôi xa tầm tay. Mùa Đông đã đi qua, cửa hàng Apple lợp kính trong suốt bày vô số bàn ghế bên ngoài khuôn viên. Vạn vật có thể ngồi lại đây phơi nắng. Tôi chọn một chiếc bàn kín đáo có góc nhìn ra phía nhà hàng St. Regis. Nó đã xuất hiện trong phim The Devil Wears Prada I. Tuổi 24 của Andy Sachs thuở 20 năm trước chính là điều tôi khao khát ở tuổi 29. Đại lộ số 5 bấy giờ cứ thấy điện ảnh hơn cả trên phim. Dòng người xinh đẹp và vội vã túa ra từ các toà cao ốc – mỗi bước họ lướt đi phản chiếu quá đỗi chân thực trong lòng tôi một ước mơ vẫn còn dang dở. Tôi thấy cuộc đời đầy ắp những khoảnh khắc đẹp đến nao núng con tim. Tôi biết mình thuộc về New York. Tôi cúi xuống nhìn tà váy hoa của mình bay lả lướt theo từng đợt gió thoảng, bồi hồi thầm hỏi Manhattan thương mến, liệu có không chuyện trăm năm của chúng mình?
“Muốn cùng đi đến khi biệt ly”
Tôi không nhớ mình đã đi đâu tiếp đó, bởi vì đi không chủ đích nên nhiều khi ngang qua một cửa hàng hay ho thì cũng không ghé được vì đã tới giờ họ đóng cửa. Nhưng có thể cũng chính vào cái ngày mặc váy hoa ấy, tôi bắt gặp một tiệm váy cưới. Tôi đứng ngẩn ngơ hồi lâu chỉ để nhìn mấy cô mannequin sau tấm kính. Tôi chụp lại vài bức ảnh của các cô ấy và cố tình không canh góc đủ đẹp để post lên mạng xã hội. Tôi thật ra chỉ muốn lưu lại ngày hôm đó đã trông thấy một chiếc tiệm tình cờ gợi lại trong mình một thời mơ ước được làm cô dâu, của một người mình từng thương. Tôi cũng từng mơ mộng về một chiếc váy trong mơ và một đám cưới nhỏ trong mơ, với một ai đó mà mình sẽ không bao giờ có happy ending với họ. Một quãng thời gian dài hơi sau khi tôi đã về Việt Nam và đủ thân với anh Việt, tôi vui miệng khoe anh về tiệm váy năm nọ lúc đang bàn chuyện gì đó không mấy liên quan, bỗng dưng anh hỏi: “Em thích làm cô dâu lắm hả?” Nói sao nhỉ? Tôi chưa gặp ai không thích làm cô dâu, tôi cũng đâu ngoại lệ. Nhưng có những mong ước tôi thấy cũng nhỏ thôi mà với mình sao khó quá chừng.
Đoạn về nhà, tôi vẫn tiếp tục loop Mưa Tháng Sáu, thấp thỏm hy vọng tai nghe khoan cạn pin. Tôi không phải là người giỏi miêu tả âm nhạc, nhưng rất biết cách để biến nó thành theme song cho một bối cảnh cuộc đời cụ thể. Khi nghe Mưa Tháng Sáu, tôi đã quyết định ngay tắp lự rằng bản nhạc này viết ra là để kể lại chuyện yêu đương giữa tôi và thành phố mình thương trọn đời:
Ngoài trời mưa rơi tháng Sáu, trong lòng rướm máu
Những hoang tàn nỗi đau
Muốn cùng đi đến khi biệt ly, mà tình nào đâu mấy khi…
Mưa Tháng Sáu trong lòng tôi không phải là một Sài Gòn khóc lóc đầu hè. Nó là một sáng tháng Năm thức giấc trong 2 lớp chăn êm ái của Palak. Là thanh âm của sự hồi sinh với bọn chim chíu chít và mây trời lững lờ trôi. Là bát cơm cà ri chay hâm lại từ bữa tối hôm trước Mẹ nấu. Là rủ Palak dressed up làm girl phố cùng đi burger date ở Shake Shack và mua 2 miếng bánh Lady M ngồi nhâm nhi gần Bryan Park. Là cô chị Ấn Độ “ruột rà” của mình ngước lên nhìn bảng tên công ty Salesforce, tặc lưỡi tiếc nuối – thế quái nào nó dám từ chối nhỏ em Việt Nam tài giỏi của mình nên giờ con bé không thể ở đây gần gũi với mình nữa. Là một mùa Xuân bờ Đông xinh đẹp đến mức làm cuộc đời dư thừa những thi vị để oán giận nào cũng hoá thành mây bay đi. Từ ngày sống ở xứ lạnh, tôi sợ hãi mùa Đông như bất cứ ai lớn lên ở đây, nhưng cũng nhờ vậy tôi bắt đầu biết chờ đợi mùa Xuân và học được là good things take time. Really long time!
Và hệt như mấy lời ca kia, Mưa Tháng Sáu là một câu chuyện ly biệt. Lúc nghe bài này, tôi sắp sửa cách xa New York đến hơn 8 ngàn dặm. Ngày ấy, tôi buồn đến độ mãi hôm nay vẫn không biết dùng ngôn từ nào để diễn tả, nhưng chẳng mấy ai hiểu được.
Manhattan’s Whisperers
Vào buổi chiều cuối cùng ở phố, tôi vừa tạm biệt nhóc Phương sau khi mời cậu bé ăn một bữa ở quán Nhật. Nhóc vừa đến New York vài tháng, học thi USMLE, làm bác sĩ thật không dễ dàng và tôi khi ấy chỉ thầm mong cậu bé dù thương tích đầy mình vẫn trót lọt vào được nội trú Mỹ về sau. Tất cả du học sinh nỗ lực tự thân như vậy trên xứ cờ hoa đều xứng đáng có một chỗ cho mình ở mảnh đất không xót thương bất kì ai này. Mặt Trời chưa lặn nhưng tôi không còn nhiều thời gian. Tôi vào Target mua nhanh vài món travel size rồi đứng thẫn thờ rất lâu ở Times Square. Dòng chữ “We love that if you can make it here, you can make it anywhere” chạy trên bảng hiệu quảng cáo làm tôi bật khóc. Đó là khoảnh khắc không ai chứng kiến. Ánh nắng chiều muộn lách mình qua “rừng bê tông” bạt ngàn, rọi thẳng xuống mọi ngả đường, chuẩn bị tắt dần cùng mảnh hy vọng còn lại trong tôi. Thế rồi, tôi nghe tiếng lòng vọng lên rất khẽ một lời sau cuối với Mã Nhật Tân, rằng nếu có thể là mất cả đời để thực hiện một lời hứa, thì tớ muốn hứa rằng chúng mình nhất định sẽ tương phùng, rằng có vô vàn mối tình không meant to be, không cùng nhau đi đến cuối, và tớ đã tan nát như thế, nhưng kể cả khi chúng ta không còn gặp lại sau hôm nay, tớ mãn nguyện vì ít nhất đã có khoảng trời này với cậu.
Không nhiều người hình dung được vì sao tôi lại si tình New York đến nhường này. Đó là một thứ cảm giác không thể cất thành lời, và chỉ những người có chung thứ tình yêu này sẽ tự khắc nhận ra nhau giữa hàng triệu trái tim. Nhưng có một chuyện tôi muốn kể. Có bữa tôi tình cờ ngang qua cửa hàng Steinway & Sons. Mùa Thu 2017 ùa về lúc Sam nắm tay tôi, chỉ vào cây dương cầm trắng và nói khi nào anh chơi đàn thành thục và có tiền, anh muốn mua 1 cây, anh thích cây đàn từ nhỏ, ước gì mẹ có tiền để sắm cho anh. Tôi chụp một tấm hình gửi qua, bảo rằng em vẫn nhớ anh thích cây đàn này. Sam đáp lại gì thì tôi quên rồi, hình như anh hỏi một mình ở New York em có buồn không. Buồn sao được, anh đi rồi nhưng New York đã ở lại với em đó thôi.
Mùa Xuân 3 năm trước, tôi đáp chuyến bay từ New York về Sài Gòn. Hành trình nước Mỹ đặt dấu chấm cho hồi kết vào năm thứ 7. Từ một cô bé mới đầu 2, chập chững bước một mình ra thế giới, ánh mắt thơ ngây, lòng tràn đầy nhiệt huyết cùng những hăng hái tuổi trẻ âm thầm sờn theo giông gió xứ người, tôi mang theo mình một trái tim can trường đã không còn lành lặn, trở về quê hương. Tôi gửi lại hoài bão đẹp nhất những năm 20 của mình cho Manhattan, nhờ cậu ấy cất giùm, biết đâu một mai nó sẽ toả sáng trên mảnh đất dấu yêu đó. Mặc dù cuộc đời chẳng còn mấy khi yên bình kể từ giây phút máy bay hạ cánh vào một buổi sớm âm u đầu tháng Sáu, và tôi rõ ràng không mang một phần trăm lạc quan nào trong mọi tế bào cấu thành nên mình, thì tự nhiên tôi nghĩ có khi cũng như The Devil Wears Prada phần II vừa ra mắt, ở bất kì giai đoạn nào trong cuộc đời, câu chuyện của bạn vẫn tiếp tục thăng hoa. Ở tuổi 75, Miranda chưa một lần ngưng miệt mài chỉnh phục những đỉnh cao mới trong sự nghiệp. Bà đã chẳng thừa nhận với Andy rằng có khi cuốn sách cô viết về bà có thể “mua” thêm cho bà vài năm vinh quang đó sao?
People deserve to know there’s a cost!
Angeqlique Uyên Võ - Sài Gòn, ngày 5 tháng 6 năm 2026